This is an example of a HTML caption with a link.

Trang nhất » Tin Tức » Báo cáo

MỘT SỐ Ý TƯỞNG TỔ CHỨC HĐTNST NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

MỘT SỐ Ý TƯỞNG TỔ CHỨC HĐTNST NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

HĐTNST là HĐGD trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của GV, từng cá nhân HS được vận dụng, thực hành các kiến thức kĩ năng đã học gắn vào với tình huống thực tế và được TNST ở các môi trường học tập khác nhau nhằm nâng cao kiến thức và hiểu biết của bản thân.

Xem tiếp...

BÁO CÁO Về việc tiếp cận mô hình dạy học VNEN

Thứ sáu - 29/04/2016 10:09
 TRƯỜNG TH NGUYỄN BÁ NGỌC
BÁO CÁO
Về việc tiếp cận mô hình dạy học VNEN
          I/ Khái quát về nhà trường
          - TS CB,GV,NV: 30 (QL: 02; GV: 21; NV: 05; cô nuôi bán trú: 02)
trình độ đều đạt chuẩn trong đó trên chuẩn đạt trên 80% ; Diện tích: 4650 m2
          - TS lớp: 14 với 460 HS (mỗi năm tăng 01 lớp, dự kiến năm sau 15 lớp)
          - CSVC: có 15 lớp học (có 01 phòng Tin học) và 8 phòng chức năng khác (phòng HT, PHT,...); có 35 máy tính (30 máy tính được nối mạng và 5 máy tính xách tay) trong đó 24 máy phục vụ HS học tập; có hệ thống camera 16 phòng học; 10 máy chiếu, 09 bộ ti vi đầu đĩa, 01 máy phô tô; 07 máy in, 4 máy lọc nước, 1 máy quay came ra, tăng âm loa đài, cây xanh tường rào bao quanh và có hệ thống điện chiếu sáng, nước máy,... cơ bản đảm bảo phục vụ các HĐGD.
          - Chất lượng GD có chuyển biến rõ nét, tỉ lệ học sinh khá giỏi đạt 82%, nhiều HS đạt giải nhất, nhì trong kì thi các cấp Văn, Toán TT và nhiều giải chữ đẹp cấp TP, cấp tỉnh, Báo nhi đồng; 1 HS đạt giải nhì chữ đẹp QG; huy chương vàng và đồng về thể thao TaeKondo, bòng bàn QG, cờ vua cấp tỉnh, giải văn nghệ, MC cấp TP, tỉnh. 100% HS học 2 buổi/ ngày,100% HS được học T.Anh.
          - Chất lượng đội ngũ: tích cực đổi mới PP dạy học, tổ chức nhiều tiết học ngoài trời,...xấp xỉ 50% GV dạy giỏi cấp TP, tỉnh, QG; CBQL đạt giải Nhất cấp tỉnh thi HT giỏi, dạy giỏi cấp tỉnh.
          - Công tác XHH thực hiện tốt, hàng năm huy động khoảng 300 triệu đồng
          - HS nghèo, mồ côi (50- 60 HS) nhà trường quan tâm: tặng quà cho nhiều lượt HS, miễn đóng góp,... vận động tổ chức, cá nhân ủng hộ.
          - Thực hiện tốt phòng trào trường giúp trường: ủng hộ trường khó khăn, giao lưu kết nghĩa; HS được tham quan, trải nghiệm công viên, trang trại, .....
          -  Tổ chức nhiều HĐGD và CT lớn, trò chơi dân gian, CLB, chuyên mục, HS được viết tin bài, sáng tác thơ, sáng tác lô gô, truyện, triển lãm tranh, nặn bánh, làm nước sinh tố, nấu cơm, luộc rau, tập làm MC,...
          - Trường liên tục đạt danh hiệu TTLĐ tiên tiến cấp TP, trường học thân thiện, HS tích cực cấp tỉnh và duy trì trường Chuẩn QG mức độ 1, phấn đấu xin mở rộng diện tích xây dựng Chuẩn QG mức độ 2.    
          II. Việc triển khai tiếp cận mô hình VNEN
* Khó khăn:
+ CBQL, GV chưa được tập huấn bài bản về mô hình VNEN
          + Không có tài liệu HD học tập theo VNEN
          + Kinh phí để phô tô tài liệu học tập cho HS (điều kiện sống của ND thấp) 
+ Bước đầu nhân rộng mô hình nên GV, HS còn lúng túng.
+ Đội ngũ (có người tuổi cao, có GV CM hạn chế ngại khó, ngại khổ,... )
+ Khối lớp 2 HS còn nhỏ nên kỹ năng giao tiếp, chia sẻ, điều hành nhóm chưa tốt và Khó khăn khác: phòng học chật, có nhiều HS khó khăn, mồ côi.,..
+ Cha mẹ HS không yên tâm cho rằng học như vậy thì HS chỉ ngồi chơi
* Thuận lợi:
- do kiểm soát tốt nên chất lượng đại trà ổn định, bền vững                      
- Đội ngũ nhiệt tình, tâm huyết;
- CBQL dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, CBQL đều là nòng cốt CM, sát sao với CM, đề cao chất lượng đội ngũ.
          *Từ những khó khăn và thuận lợi, năm 2013 – 2014 áp dụng nhân rộng mô hình VNEN cụ thể:
          - Trong HNCC Gv được thảo luận, bàn bạc => Xây dựng KH đưa nội dung nhân rộng từ đầu năm để Giáo viên chuẩn bị tâm thế đổi mới theo định hướng áp dụng nhân rộng VNEN có lựa chọn một số nội dung các khối lớp (tổ chức lớp học; Trang trí lớp học theo mô hình VNEN; Áp dụng phương pháp dạy học theo VNEN ở một số môn học, phân môn và  một số tiết học (Lựa chọn tính ưu việt trong các bước học để thực hiện); Thiết kế tài liệu học tập theo VNEN ở 1 số tiết, 1 số môn.) với phương châm " Làm đâu chắc đấy- khó khăn vẫn làm"
          - Động viên khuyến khích GV, nâng cao nhận thức cho GV, dạy làm sao để PH lựa chọn; HS có khả năng chia sẻ tốt → giá trị bản thân được nâng lên → GV có tư tưởng sẵn sàng đổi mới.
          - CBQL, TTCM thực sự nòng cốt CM, đi đầu, dạy cho GV dự
          - Tổ chức nhiều chuyên đề theo hình thức SHCM mới: từ CĐ bầu HĐTQ
(Lựa chọn chuyên đề; chọn lớp dạy; lựa chọn bài dạy; Thống kê tài liệu – lựa chọn Logo; Cử người đại diện dạy; GV ngồi dự: không ngồi cuối, ngồi sau HS quan sát 2 bên lớp học; Chia sẻ → Thống nhất chuyên đề)
          - Sau CĐ áp dụng đại trà các lớp, BGH và TTCM kiểm tra áp dụng của GV: dự giờ có thể chỉ 1HĐ, dự song song 2 lớp, hướng dẫn tại chỗ cho GV về PP và cách thiết kế tài liệu cho phù hợp…có đánh giá rút kinh nghiệm. Từ đó nhân rộng GV dạy tốt, lớp học tốt, giờ tốt, HĐ tốt,...
          - Mượn tài liệu học cách thiết kế, BGH cùng GV thống nhất cách thiết kế cho 1 số tiết cơ bản, có chỉ dẫn cụ thể giúp HS tự học, HS tự HĐ, GV hỗ trợ.
          - Tập huấn cho GV, GV tập huấn cho HS về cách điều hành, chia sẻ, cách phản hồi trong nhóm, trong tiết đặc biệt các nhóm trưởng, nhóm phó các nhóm.
          - Tổ chức cho GV đi học tập tại trường có dự án: TH Duyên Hải, HVT,... sắp xếp thời gian cho GV dự giờ lẫn nhau, đi dự cùng BGH, dự cốt cán,...
          - Áp dụng linh hoạt 10 bước học song đảm bảo các bước cơ bản và nổi bật bản chất mô hình VNEN.
          -  Đưa vào nội dung KT HĐSPNG; kiểm tra nhanh, kiểm tra đột xuất và TĐKT cuối năm tập trung vào ND nhân rộng.
          - Lập quy trình
          * Kết quả: bước đầu được PGD đánh giá cao (từ thiết kế tài liệu đến HĐ học của HS)→ Báo cáo T.Luận tổng kết năm học → Chất lượng GD tăng lên, HS tự tin, mạnh dạn hơn, có kĩ năng tương tác đa chiều, phát huy năng lực, bộc lộ bản thân, PH yên tâm, ủng hộ.
          * Một số hình ảnh HĐ: CLB, dã ngoại, học ngoài thiên nhiên; từ thiện; trao quà chương trình cho em cuộc sống tươi đẹp; triển lãm tranh ....
          2. Năm học 2014- 2015: Nhân rộng chương trình kể cả lớp 5 mới, dạy theo tài liệu mô hình VNEN với Phương châm Quyết tâm “đi tắt đón đầu
          - Cuối năm 2013 – 2014 chứng minh bằng kết quả của việc nhân rộng một số môn: Toán, Tiếng Việt (LT&C, Tập đọc), TNXH, KH và một số hoạt động trong các tiết Lịch sử, Địa lý, TLV, KC → Chính GV; PH thấy hiệu quả, HS chia sẻ tốt…nhà trường mạnh dạn nhân rộng, cụ thể như sau:
          Bước 1: Tiếp tục nâng cao nhận thức
          - Đội ngũ, PH: Sẵn sàng cho sự thay đổi, xác định tâm thế tốt, phân tích...
          - Mời đại diện cha mẹ đến bàn, tuyên truyền nâng cao nhận thức: Họp đại diện PH, lấy ý kiến PH toàn trường lấy ý kiến → PH đồng thuận -> đăng kí mua tài liệu với trường, không mua trước.
          Bước 2: Đăng ký nhân rộng CT tất cả các môn học với Sở GD, Phòng GD khi đủ điều kiện với phương châm tự nguyện, đồng thời đăng kí tài liệu từ lớp 2 → lớp 5 (mặc dù lớp 5 các trường trong dự án mới triển khai)
          Bước 3: Triển khai thực hiện
          - Tập huấn dạy học mô hình VNEN từ trong hè (phòng, sở tạo Đ.Kiện)
          - Chủ động liên hệ trường trong dự án để được tập huấn chung (nắm bắt những vấn đề trọng tâm, bán chất mô hình, dự giờ, trao đổi mạnh dạn với họ…)
          -  Triển khai       4 tuần đầu không có sách, nhà trường tự bố trí nội dung CT học theo sách cũ và song song tập huấn, tổ chức CĐ tại trường,...
                          Khi có sách: chỉ đạo khối 2- k5 kể cả Lớp 1  TViệt CN → áp dụng một số HĐ để tạo tiền đề cho lớp 2.
          + Tổ chức chuyên đề sâu: Kiểm soát chất lượng, dạy theo đối tượng, dạy theo tiến độ, nhịp độ; …, kết nối với công cụ lớp học, kết nối với cha mẹ HS qua sổ ghi chép của lớp, qua các HĐ GDNGLL,...
          + Kiểm tra thực hiện chuyên đề, đánh giá, rút kinh nghiệm
          + Tổ chức cho GV, HS đi học hỏi những trường trong dự án có chuyên gia về mô hình này tập huấn ở Bộ GD. … VD: cho HS là nhóm trưởng đến học cùng chia sẻ → bố trí giáo viên dạy thay, dồn lớp học ngoài trời, HT dạy thay.
          + BGH thực sự là nòng cốt chuyên môn: dạy nhiều tiết, nhiều lớp, các khối để nắm bắt, cho giáo viên tham khảo và trực tiếp bồi dưỡng HS giỏi…
          - Tổ chức lớp học:      Áp dụng cả trong QL: có HĐTQ GV, HĐTQ PH                                   có các ban hỗ trợ VD: từng công việc của trường, cần                              đến ban nào thì GV hoặc cha mẹ thuộc ban đó hỗ trợ.
                       HS có HĐTQ, tổ chức giao ban bào thứ 6 hàng tuần.
          - Trang trí lớp: Chấm điểm theo tháng; khuyến khích sự sáng tạo và sự khác biệt của giáo viên không theo mẫu. Bảng tỉ lệ chuyên cần không làm vì học sinh đi học đầy đủ nên không phù hợp.
          - Làm đồ dùng dạy học chủ động 2 lần/ năm nộp       Làm vào tài liệu
                                                                                                    Làm nháp
                                                                                                  Trình chiếu kết hợp
         - Giáo án: Đơn giản hóa không phức tạp: Nhưng đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu gửi qua mạng kiểm tra bài dạy và đặc biệt điều chỉnh tài liệu.
        - Sự kiểm soát, hỗ trợ của GV với HS yếu. Kết hợp đánh giá HS theo TT30
giao quyền chủ động cho GV
        - Hoạt động cộng đồng: Sử dụng sổ ghi chép kết nối với PH, Những buổi ngoại khóa mời PH đến cùng làm, tư vấn, hỗ trợ ủng hộ kinh phí, vệ sinh lớp học, dạy kĩ năng sống: Làm bánh….có học sinh tích cực tham gia, lớp có nhiều cha mẹ tham gia. Tổ chức CLB; Chuyên mục qua bảng tin, phát thanh măng non tập huấn để học sinh viết bài. VD: Muốn tổ chức 1 HĐNK dã ngoại tham quan
       + Xây dựng kế hoạch thống nhất nội dung chương trình
      + Mời PH các lớp tham gia; có học sinh tham gia đến họp triển khai KH
      + Dự kiến kinh phí….PH tự nguyện ủng hộ
      + Phân công cụ thể công việc cho GV, PH cùng thực hiện GV nào – PH ấy…→ PH viết dòng cảm nhận sau mỗi chuyến đi, đề xuất
      + Mời PH đến dự giờ, dự HĐNK.
      + GV Hướng dẫn PH biết cách dạy con ở nhà.
        - Thực hiện công khai chất lượng từng tháng trên bảng tin; trên trang Web 1lần/1 học kì
      - Tổ chức cho HS thông qua nhiều hoạt động bổ trợ nhằm giáo dục kĩ năng sống, tăng cường giao tiếp tình huống chia sẻ.
        - Duy trì tiết học ngoài thiên nhiên "2 trong 1, 3 trong 1" tạo sự thoải mái, không khí mới. Học sinh có thể ra ngoài học cả buổi với các tiết học trong ngày (GV báo cáo soạn nội dung, BGH duyệt)
        - Tích cực viết bài tuyên truyền về mô hình VNEN. Phối hợp với cơ quan truyền thông truyền hình nêu gương người tốt, việc tốt → Từ việc làm tốt → Hướng dẫn GV viết SKKN về mô hình VNEN. Kết quả hội giảng: 3 Cấp tỉnh, 7 cấp thành phố (50%). 10 sáng kiến cấp TP, 2 sáng kiến cấp tỉnh, chất lượng GD nâng lên, HS mạnh dạn, tự tin, biết đề xuất...

Tác giả bài viết: Trần Thị Liên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết





 

GIỚI THIỆU

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

Được mang tên anh hùng Nguyễn Bá Ngọc từ năm 1998, thuộc quản lí của Phòng GD&ĐT thành phố Lào Cai Được mang tên anh hùng Nguyễn Bá Ngọc từ năm 1998, thuộc quản lí của Phòng GD&ĐT thành phố Lào Cai. Suốt chặng đường hoạt động và phát triển, nhà trường đã không ngừng vươn lên, từng bước vượt khó và...

LIÊN KẾT

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 9


Hôm nayHôm nay : 417

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 51867

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2506004

Thăm dò ý kiến

Các bậc phụ huynh làm gì để con mình học tốt hơn

Cho con đi học thêm ở ngoài

Cho con mình học thêm trong trường học

Không cho con đi học thêm mà tự dạy con học ở nhà

Tích cực trao đổi với giáo viên hàng ngày hàng ngày

Cho con cả học thêm trong và ngoài nhà trường